Saturday, March 30, 2013

Bùi Văn Bồng: NGHĨ VỀ TRƯỜNG HỢP NGUYỄN ĐÌNH LỘC

Bùi Văn Bồng: NGHĨ VỀ TRƯỜNG HỢP NGUYỄN ĐÌNH LỘC: * GS. LÊ XUÂN KHOA                Tôi không quen ông Nguyễn Đình Lộc nhưng được biết về ông qua một số phát biểu và trả lời phỏng vấ...

Copy lại từ anhbasam04 vì bvbong-blog đã bị xóa:

NGHĨ VỀ TRƯỜNG HỢP NGUYỄN ĐÌNH LỘC

13h30'- 30-03-2013. Bổ sung: 

- GS Lê Xuân Khoa gửi lời Đính chính: Trong bài “Nghĩ về trường hợp Nguyễn Đình Lộc”, tôi có dẫn lời ông Nguyễn Phú Trọng khi đến nói chuyện tại Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời trích dẫn thì đúng, nhưng thời gian buổi nói chuyện thì sai về năm: không phải 2013 mà là 2012, tức là đúng một năm trước. Sự sai lầm này do một thân hữu khi chuyển bản tin cho tôi đã chỉ chú ý đến ngày tháng (27/03) đúng vào lúc tình hình đang diễn ra trong tháng ba năm 2013.

Dù sao thì lời phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng cũng đã được trích dẫn đúng, vì vậy vấn đề quan trọng tôi nêu ra trong câu cuối cùng của bài viết không có gì thay đổi. Tôi chỉ xin bỏ cái giả thiết “Phải chăng đây là sự thức tỉnh kịp thời của ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước” vì thời điểm phát biểu của ông Trọng là năm 2012.

------

Lê Xuân Khoa

27-03-2013

Tôi không quen ông Nguyễn Đình Lộc nhưng được biết về ông qua một số phát biểu và trả lời phỏng vấn của ông trong mấy năm gần đây, đặc biệt là cuộc trao đổi với nhà báo Nguyễn Anh Tuấn về Dân chủ và Pháp quyền” trên Tuần Việt Nam, ngày 25/8/2010. Là một người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm đến những vấn đề của đất nước, tôi đánh giá ông là một trí thức tiến bộ, thẳng thắn và can đảm trong một chế độ độc tài toàn trị, mặc dù tôi có khác ý kiến với ông về một số điểm. Tôi tôn trọng ông hơn khi thấy ông đứng tên trong số 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng bàn Kiến Nghị về Sửa đổi Hiến Pháp 1992 (KN72) và cầm đầu phái đoàn 15 người đến trao bản Kiến nghị cho Ủy ban Pháp luật của Quốc hội ngày 4 tháng 2, 2013.

Bởi thế, tôi rất ngạc nhiên và thất vọng khi xem và nghe ông trả lởi trên đài VTV về vai trò của ông Lộc trong nhóm khởi xướng KN72. Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy có điều gì khác thường cần tìm hiểu thêm, nhất là chờ phản ứng từ những bạn đồng chí của ông trong nhóm KN72. Sau khi đã đọc và suy nghĩ về những ý kiến và giải thích của những người mà tôi quen biết và quý mến, tôi muốn góp thêm một số nhận xét như sau:
1. Sự kiện quan trọng và minh bạch nhất là ông Lộc đã ký vào bản KN 72 và ông không hề phủ nhận điều ấy. Ông Lộc đã cho thấy là một nguyên bộ trưởng bộ tư pháp với kinh nghiệm già dặn như ông chỉ có thể đặt bút ký trên một văn kiện quan trọng sau khi đã đọc kỹ với đầu óc sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Chắc chắn ông Lộc cũng có cùng một suy nghĩ như GS Tương Lai: “Với tư cách là trí thức, mình đã đặt bút ký thì chữ ký đó nặng ngàn cân, vì nó là danh dự và trách nhiệm của người trí thức.”
 
2. Ông Lộc đính chính ông không phải là người tham gia “việc viết cái văn bản,” nhưng việc đính chính này không liên quan đến việc ông ký tên vì ai cũng hiểu rằng không phải người nào ký tên cũng là người tham gia viết văn bản. Các bạn ông đều nói ông đã phải chịu nhiều sức ép rất mạnh. Đó là lý do khiến ông phải đính chính, nhưng ông đã chỉ nói ra một sự thật khách quan vô hại. Như vậy ông đã chọn được một cách đính chính khôn ngoan: đính chính một việc không cần phải đính chính. Như ta thường nói: “bị ép thì làm cho có, cho yên chuyện”.
3. Ông Lộc giải thích lý do ông làm trưởng đoàn là vì ông là nguyên Bộ trưởng bộ Tư pháp nên được các bạn “tín nhiệm giao” cho ông trao bản Kiến nghị. Ông cũng nói là việc làm trưởng đoàn “cũng có lúc định là người khác” nhưng đến hôm cuối cùng thì mọi người gặp nhau “bảo là bác Lộc phải trao, thì tôi trao.” Ông Lộc cũng nói là vào lúc chót, ông “muốn sửa đổi một số chỗ” (trên bản văn mà ông đã ký) nhưng tất nhiên là không được vì bản văn đã được công bố rồi.
Ông Lộc cho thấy ông chỉ muốn nói cho rõ việc ông làm trưởng đoàn không phải do ông tự ý tình nguyện mà do lời yêu cầu của các bạn trong buổi họp mặt trước khi cùng nhau đến Quốc hội để trao bản Kiến nghị. Ông Lộc đã dùng lời lẽ có vẻ như đính chính nhưng thật ra thì ông xác nhận việc ông được bạn bè tín nhiệm là chính đáng nên ông đã nhận lời. Một lần nữa, trong tình thế bị áp lực, ông Lộc lại tìm được cách đính chính mà không phải là đính chính. Còn việc ông Lộc nói ông muốn sửa đổi mấy chỗ thì ông cũng chỉ nói lên một điều mà ông biết là không thể làm được vào lúc đó. Dù sao, nếu có những chỗ muốn sửa thì chỉ là về hình thức, chứ không phải về nội dung mà ông đã đồng ý khi ký tên cũng như khi đi cùng với đoàn và nhận làm trưởng đoàn.
Về điểm này, tôi thấy cần nhấn mạnh rằng ông Nguyễn Đình Lộc đã đặt vấn đề sửa đổi hiến pháp từ lâu rồi. Trong cuộc thảo luân bàn tròn trực tuyến của Tuần Việt Nam năm 2010, ông Lộc đã châm biếm tình trạng vẫn y nguyên (dân gian thường nói lái là “nguyễn y vân”) của những sửa đổi hiến pháp trước đó. Ông nói:“Chẳng hạn, năm 2001 lúc sửa Hiến pháp, đưa được vào Hiến pháp điều Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân thì rất mừng, sướng quá, xem đó như một thắng lợi. Nhưng 10 năm trôi qua, giờ nhìn lại thấy giật mình hỏi: chỉ đưa vào từng đó là đủ, là hết à? Rõ ràng là không phải, vì cả 5 chương về bộ máy nhà nước chúng ta vẫn quy định theo cách cũ...Có khác gì chúng ta hô hào phải mạnh mẽ đi lên, đã nhấc một chân lên, nhưng chỉ nhấc lên mà không hạ xuống. Có khác gì dùng một cái bánh rất ngon nhử nhử “bánh này ngon lắm các bạn ơi” nhưng chỉ nhử mà không cho ăn gì cả.”

Thật đúng là một trò lừa dối nhân dân, coi nhân dân là con nít. Bởi thế, ông Lộc đã khẳng định: “Nếu sửa Hiến pháp bây giờ cần phải sửa rất cơ bản.”

Tôi cũng trích dẫn vài đoạn khác để cho thấy ông Lộc không phải là người bị lôi cuốn bởi bạn bè. Về dân chủ, ông bác bỏ luận điệu cho rằng trình độ dân trí Việt Nam còn thấp, chưa thể thực hiện dân chủ được: “Nói như thế là nguy hiểm chứ không phải là nói sai. Đó là một cách nói để chúng ta hạn chế quyền dân chủ của người dân.” Và ông cảnh cáo: “Phải luôn luôn nhớ rằng sinh ra bộ máy nhà nước là để quản lý, giữ gìn trật tự trị an, nhưng chúng ta làm không tốt nên người dân có phản ứng bằng nhiều hình thức. Có thể người ta mạnh mẽ phản kháng, nhưng điều đáng sợ hơn là nguy cơ người dân quay lưng lại với chế độ. Mà một khi người dân đã quay lưng lại thì không gì có thể cứu vãn được.”

Bây giờ, trở lại chuyện sức ép. Vấn đề đặt ra là có hay không việc ông Nguyễn Đình Lộc bị sức ép mạnh đến độ ông phải nhận trả lời câu hỏi của đài truyền hình nhà nước, và nếu có thì sức ép đó như thế nào?. Về điểm thứ hai trong câu hỏi thì không ai có thể trả lời ngoài ông Lộc và cũng không ai có quyền đòi hỏi ông Lộc phài tố cáo các sức ép. Nhưng chuyện có sức ép hay không thì người ngây thơ đến đâu cũng biết là ông Lộc không thể nào tự ý muốn lên đài truyền hình nhà nước để trả lời một câu hỏi được “hướng dẫn” vào việc tấn công nhóm Kiến nghị 72. Câu hỏi của VTV có hai vế rất rõ: vế đầu khẳng định một chuyện tưởng tượng là “đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ” bản dự thảo của chính quyền về việc sửa đổi hiến pháp 1992; vế thứ hai yêu cầu ông Lộc trả lời về việc “một số người tự ý xây dựng một bản dự thảo hiến pháp và môt bản kiến nghị gửi Ủy ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992”.

Việc bịạ đặt và thổi phồng thành tích tốt đẹp của Đảng vốn là nghiệp vụ thường ngày của các cán bộ tuyên truyền trong bộ máy nhà nước. Việc gợi ý cho người được phỏng vấn ca ngợi hay đả kích một đối tượng trong cuộc phỏng vấn lại là một xảo thuật để lấy được những câu trả lời mà Đảng và nhà nước mong muốn. Tuỳ trường hợp, việc hướng dẫn trả lời có hàm ý khuyến khích hay đe dọa. Trong trường hợp ông Lộc, phóng viên cán bộ VTV vừa áp đặt một kết quả giả tạo để làm phông cho cái-được-gọi-là phỏng vấn, vừa hàm ý “nhắc nhở” ông Lộc về kết quả mong đợi. Không may cho VTV, ông Lộc đã biết cách thoát hiểm dù có bị sây sát đôi chút.

Phản ứng đầu tiên của những người theo dõi những câu trả lời của ông Nguyễn Đình Lộc, nói chung, là thất vọng (trong đó có tôi). Nhiều người, kể cả một số bạn của ông, đã phê phán ông ở nhiều mức độ khác nhau. Nhưng nghĩ lại, đa số đều hiểu cách trả lời của ông vẫn bảo vệ được toàn vẹn giá trị của bản Kiến nghị 72 và chỗ đứng của ông trong hàng ngũ trí thức tiến bộ. Tất cả đều thấy rõ ông đã bị sức ép rất mạnh không chỉ với cá nhân ông mà còn với cả gia đình ông, nhất là các con ông đã được chính quyền “hỏi thăm” và rất lo lắng. Quan trọng hơn hết là tất cả mọi ngưòi đều biết rằng chính quyền độc tài, qua đủ thứ tay sai, không từ bỏ một thủ đoạn bẩn thỉu hay độc ác nào để hăm dọa và ép buộc một đối tượng làm theo ý muốn của họ.

Bởi vậy, thay vì chỉ trích một nạn nhân bị hăm dọa, nhất là khi nạn nhân ấy đang phấn đấu để bảo vệ danh dự và trách nhiệm, trí thức và nhân dân hãy liên kết để bảo vệ những nạn nhân bị hăm doạ và đàn áp, và chĩa mọi mũi dùi tấn công vào bọn gian manh đang thi hành những tội ác tày trời. Bằng sự tố cáo trước dư luận trong nước và thế giới những thủ đoạn hăm doạ bẩn thỉu, những hành động đàn áp dã man người vô tội, những trò hoả mù về ngoại giao để lừa dối quốc tế, ta sẽ vô hiệu hóa được mọi luận điệu tuyên truyền và bạo lực nhằm duy trì quyền lực và lợi ích riêng của những kẻ cầm quyền độc tài và tham nhũng.

Khi đã bị đông đảo nhân dân lột mặt nạ, phơi bày tôi ác trước dư luân thế giới, chế độ sẽ thấy rõ “nguy cơ người dân quay lưng lại với chế độ.” Khi đó, đông đảo nhân dân sẽ hết sợ và từ hết sợ đến nổi giận rồi nổi loạn, quãng đường sẽ rất ngắn, ngắn lắm.

Ngày 27/03/2013, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã đến nói chuyện tại Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Mặc dù vẫn có lối nói lòng vòng thiếu sáng sủa nhưng không bao giờ quên vai trò của Đảng, ông Trọng cũng đã làm nổi bật được môt điểm then chốt khi nói về công tác chính trị trong quân đội: “Đây là nền tảng, là yếu tố cơ bản, nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, là người bạn tin cậy, thân thiết của toàn dân.”

Phải chăng đây là một sự thức tỉnh kịp thời của ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước hay vẫn chỉ là một xảo thuật để trấn an, mua thời gian để tiếp tục đối phó . Nhưng người dân cũng đã hết bị lừa. Cuôc chiến tranh lạnh giữa nhà cầm quyền với trí thức và nhân dân đã tới hồi kết thúc. Có thể nào “người bạn tin cậy, thân thiết của toàn dân” lại phản bội sự “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân”?

Lê Xuân Khoa

California, 27/03/2013

-----

* Giáo sư Lê Xuân Khoa là cựu Chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins, Washington, D.C.
Tác phẩm nghiên cứu của ông, “Việt Nam 1945 – 1995: Chiến tranh, tị nạn, bài học lịch sử”, đã ra mắt tập Một vào năm 2004, vừa qua blog Ba Sàm đã lần lượt đăng tải toàn bộ nội dung.
Mời đọc thêm một số bài viết của ông:
Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến? (BBC, 2005), bài viết được độc giả đặc biệt quan tâm và trao đổi, cho tới nay càng rõ giá trị về nghiên cứu chính trị, lịch sử của nó và vẫn tiếp tục là đề tài đáng trao đổi. Ngay sau khi bài được đăng, Nhà báo Nguyễn Hòa của báo Nhân dân đã có bài tranh luận, nhưng không phải trên tờ báo của mình, mà là trên talawas.
Thư gửi bạn bè trong nước qua diễn đàn sci-edu (Diễn đàn thế kỷ/ Bauxite).

No comments:

Post a Comment