Friday, May 3, 2013

Jonathan London và Vũ Quang Việt: " Việt Nam và TQ sẽ có thể đứng ngang nhau"


Một phần bài viết của 2 tác giả cho Hội nghị Quốc tế về biển Đông, 27-28/4/2013, nguồn: http://anhbasam04.wordpress.com/2013/05/02/viet-nam-trung-quoc-va-xung-dot-o-bien-dong-nam-a/
Việt Nam: Con đường thứ ba?
Một đặc điểm thú vị của tình trạng khó khăn của Việt Nam đã được lưu hành trong một thời gian. Đặc tính này được cho là tiêu biểu cho các quan tâm cơ bản của các nhà lãnh đạo Việt Nam mà nguồn gốc chính xác từ đâu chúng ta không biết, nói theo lời truyền miệng sau: “Theo Mỹ thì mất chế độ, theo TQ thì mất nước”. Câu châm biếm này, dù hài hước trong nhiều khía cạnh, nói lên một tình thế nan giải sâu sắc mà ban lãnh đạo Việt Nam đang đối mặt, tiến thoái lưỡng nan, dù không phải là mới nhưng có một sự thích đáng mới, và đòi hỏi một cách tiếp cận mới. Trước hết, chúng ta hãy mổ xẻ nan đề này, cả điều kiện tổng quát lẫn đối với biển Đông Nam Á. Sau đó chúng ta có thể quan sát các tác động đối với Việt Nam. Điều này đưa chúng tôi đến việc đề xuất một con đường thứ ba có liên quan đến việc không mất nước mà cũng không nhấn Việt Nam chìm vào hỗn loạn.

Đối phó với một TQ bành trướng hay – nói một cách xây dựng hơn – thiết lập quan hệ đối tác với một TQ đang trỗi dậy, có thể là một vấn đề “mới” cho phần lớn các nước trên thế giới. Đối với Việt Nam đang và luôn luôn là một thực tế sống còn. Đối với ĐCSVN, TQ luôn luôn đặt ra những cơ hội và các đe dọa. Một mặt, ĐCSTQ đã từng viện trợ Việt Nam về vật chất và phi vật chất tại nhiều thời điểm quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Mặt khác, ĐCSTQ đã tìm cách thao túng, làm suy yếu, và thách thức nền độc lập của Việt Nam. Đây cũng là trường hợp mà các mối quan hệ lịch sử của ĐCSVN với ĐCSTQ là một điểm nhức nhối trong chính trị nội bộ của Việt Nam. Một phần là do việc áp dụng tai hại cải cách ruộng đất theo gợi ý của ĐCSTQ và chính sách văn hóa từ thập niên 1950 đến thập niên1970 và một phần là do vào một số thời điểm nhất định, chẳng hạn như năm 1951 và năm 1974, có thể ĐCSVN đã đặt tin tưởng quá nhiều vào tình đồng chí của Bắc Kinh, thể hiện qua những nỗ lực vô bổ và tự chuốc lấy thảm hại để vun bồi sự ủng hộ của Bắc Kinh vì một mối quan hệ hòa bình và thân thiện được xây dựng trên sự tôn trọng lẫn nhau. Chỉ là phản bội. TQ nói chung và đặc biệt là ĐCSTQ luôn luôn là một con dao hai lưỡi đối với Việt Nam và ĐCSVN. Liên quan đến biển Đông Nam Á, ĐCSVN đối mặt với bề bén của con dao và vẫn chưa tỏ ý muốn thoát ra khỏi vị trí này, tiết kiệm việc mua các rào chắn quân sự (chẳng hạn như tàu ngầm, máy bay chiến đấu, công nghệ tên lửa, tàu tuần tra và máy bay). Điều này, tự nó, là cách tiếp cận sai.
Về mặt lịch sử, mối quan hệ của ĐCSVN với Hoa Kỳ có thể được mô tả hợp lý là thảm hại, ít nhất là cho đến gần đây. Tất nhiên, lý do chính, là việc Hoa Kỳ không công nhận ĐCSVN cùng những nỗ lực phá hoại, đánh bại, và tiêu diệt ĐCSVN bằng quân sự sau đó. Can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, ban đầu dựa trên nguỵ tạo (ví dụ như “Sự cố Vịnh Bắc Bộ”), đã diễn biến xấu đi thành một cuộc xung đột giáng thiệt hại thảm khốc lên Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi không muốn chăm chú vào cuộc chiến tranh bất hợp pháp của Chính quyền Johnson và Nixon và nhiều hành vi phạm tội được những người như McNamara và Kissinger giám sát, nhưng chúng tôi không thể không nắm bắt về sự trớ trêu mà sự chiếm giữ bất hợp pháp Hoàng Sa của Bắc Kinh vào năm 1974 là kết quả trực tiếp của việc cò kè của cả ĐCSVN lẫn của chính quyền Nixon trong việc vun quén mối quan hệ tốt hơn với ĐCSTQ, một chiến lược ngắn hạn đã được chứng tỏ là gây tổn hại về lâu dài, không những vì ĐCSVN đứng nhìn TQ chiếm quần đảo Hoàng Sa mà còn vì họ đã cho TQ một chỗ đứng trong biển Đông Nam Á mà TQ liên tục tìm cách mở rộng. Đối với Mỹ, động lực của Nixon-TQ là được hưởng lợi trong việc tăng sức ép lên Liên Xô và xây dựng một mối quan hệ có tính xây dựng với một quốc gia sẽ sớm thách thức vị trí bá chủ của chính Hoa Kỳ, kể cả ở Đông Á. Sự miễn cưỡng của ĐCSVN vun bồi các quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ được sinh ra từ hai lý do cơ bản: một mặt, sợ làm ĐCSTQ nổi giận và mặt khác sợ cho phép ‘diễn biến hòa bình’ mà cuối cùng sẽ dẫn đến sự sụp đổ của ĐCSVN. Nhưng cả hai lý do cơ bản là không có giá trị.
Liên quan đến Bắc Kinh, quả thực có một nhu cầu thiết lập một mối quan hệ mang tính xây dựng và dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. Không rõ là Bắc Kinh tôn trọng Hà Nội vượt trên mối quan hệ Anh – Em đã liên tục mang lại tổn hại cho Việt Nam. Chúng tôi không có ảo tưởng, khi đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và khi cường quốc quân sự tầm cỡ thế giới ngay bên cạnh, Việt Nam phải duy trì một mối quan hệ tích cực và xây dựng với TQ. Mặt khác, ngồi im tổ chức một vài hội nghị mà chúng hầu như không thu hút sự chú ý của quốc tế, là một con đường chắc chắn để nhượng mất biển Đông Nam Á. Việt Nam là một nước có chủ quyền không phải là một nước chư hầu và Việt Nam có lợi ích chiến lược riêng của mình độc lập và, tất yếu, khác với TQ. Mối quan hệ của ĐCSVN với ĐCSTQ và các mối quan hệ của Việt Nam với TQ phải dựa trên nguyên tắc hợp tác và không gia trưởng.
Đối với Washington, ĐCSVN có quyền hoài nghi. Tất cả các nước và các quốc gia cần hoài nghi về sự nhất định phá sản về trí tuệ của Hoa Kỳ phụ thuộc vào thế giới theo các nguyên tắc thị trường. Ngoài ra, ĐCSVN nên thận trọng về sự phân chia có mặc cả khu vực ảnh hưởng giữa các cường quốc lớn, ở đó quyền lợi của đất nước bị giày xéo. Mặt khác, có rất nhiều thứ thu lượm được về kinh tế và về các lĩnh vực khác thông qua sự can dự tích cực và năng động hơn với Mỹ. Vun bồi một mối quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ cũng không nhất thiết kéo theo một trò chơi tổng bằng không đối với Bắc Kinh, như chúng tôi sẽ nhấn mạnh hơn, dưới đây. Than ôi, quan hệ đối tác của ĐCSVN với Mỹ, và thực sự chỗ đứng của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế, hiện nay bị giới hạn do ĐCSVN một mực muốn duy trì một hệ thống chính trị áp bức. Điều này đưa chúng ta thẳng tới lý do rằng nếu ĐCSVN vun quén mối quan hệ sâu xa hơn với Washington, Washington sẽ đòi hỏi giảm bớt các trói buộc lên các quyền tự do cơ bản (ngôn luận, lập hội, vv…), thì sự cai trị độc đảng sẽ bị đặt trong tình trạng nguy hiểm. Một cái nhìn như vậy là sai lầm, tuy nhiên, trong chừng mực giả định rằng ĐCSVN không có khả năng tự cải cách.
Làm thế nào mà một bài viết về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông Nam Á lại dẫn chúng ta đến một cuộc thảo luận về chính ĐCSVN? Điều này có thể được nêu ra bằng những ngôn từ rất đơn giản. Chính quan điểm của chúng tôi là an ninh quốc gia của Việt Nam và lợi ích quốc gia, về kinh tế và những mặt khác, sẽ được hưởng lợi to lớn từ việc cải thiện tầm vóc quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, cải thiện tầm vóc quốc tế của Việt Nam sẽ chỉ đi kèm với cải cách thể chế cơ bản, trong đó có cải cách chính trị và kinh tế mà Việt Nam rõ ràng rất cần. Có rất, rất nhiều người Việt Nam, kể cả hàng tá người có nhiều liên hệ lâu dài với ĐCSVN nhận ra rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ một chính phủ có năng lực và có trách nhiệm hơn và một hệ thống chính trị và nền dân chủ cởi mở hơn, hệ thống đó hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam và nguyện vọng của mọi người Việt Nam. Thực hiện cải cách cơ bản không nhất thiết có nghĩa là sự cáo chung của ĐCSVN. Có rất nhiều người thông minh và có tài nhưng đã phải đứng bên lề một cách không cần thiết do sự bảo thủ chính trị và chính trị của các nhóm lợi ích. Ngược lại, chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi to tát từ những cải cách cơ bản. Và rằng những cải cách như vậy sẽ không những mở đường cho một nền kinh tế sôi động hơn mà cũng đưa Việt Nam ngang tầm với phần lớn các nước trên thế giới có cùng khát vọng về tự do, dân chủ, bình đẳng, công bằng và các giá trị con người khác, qua đó củng cố vị thế quốc tế của Việt Nam và cuối cùng tăng cường vị trí của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và thế giới. Khi đó – và chỉ khi đó – Việt Nam và TQ sẽ có thể đứng ngang nhau.
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2013

Ghi chú: 
[i] Ts. Jonathan D. London là giáo sư ĐH thành phố Hong Kong. Ts. Vũ Quang Việt là một nhà phân tích độc lập và là cựu chuyên viên phân tích thống kê LHQ.
[iii] Hành động này của vua Gia Long đã được hai người nước ngoài ghi nhận.
Giám mục Pháp Jean Louis Taberd viết rằng vua Gia Long đã cắm cờ Việt Nam ở Hoàng Sa năm 1816 trong Note on the Geography of Cochin China, xuất bản bằng tiếng Anh trong Journal of the Asiatic Society of Bengal, Issue 69, 1837, page 745. Taberd viết: “The Pracel or Parocels, is a labyrinth of small islands, rocks and sand-banks, which appears to extend up to the 11th degree of north latitude, in the 107th parallel of longitude from Paris. Some navigators have traversed part of these shoals with a boldness more fortunate than prudent, but others have suffered in the attempt. The Cochin Chinese called them Cón uáng [Cát Vàng – or Hoang Sa in Vietnamese which refers to the Paracels]. Although this kind of archipelago presents nothing but rocks and great depths which promises more inconveniences than advantages, the king GIA LONG thought he had increased his dominions by this sorry addition. In 1816, he went with solemnity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely any body will dispute with him.” [Quần đảo Pracel hoặc Parocels, là một mê cung các đảo nhỏ, đá và bãi cát, nằm trãi rộng tới 11 độ vĩ bắc, ở kinh tuyến 107 so với Paris. Một số nhà hàng hải đã dạn dĩ đi qua được một phần những bãi cát ngầm này nhờ may mắn hơn là thận trọng, nhưng những người khác đã nỗ lực nhưng bị trả giá. Người Nam Kì (Cochin Chinese) gọi chúng là con uang [Cát Vàng - hay Hoàng Sa theo tiếng Việt khi nói tới quần đảo này]. Mặc dù loại quần đảo này không có gì khác ngoài các đảo đá và các độ sâu lớn hứa hẹn bất nhiều bất tiện hơn là thuận lợi, vua Gia Long nghĩ rằng ông làm tăng lãnh địa của mình lên bằng cách thêm vào các đảo cằn này. Năm 1816, ông đã long trọng cắm lá cờ của mình và thực hiện việc chiếm hữu chính thức các đảo đá này, mà ít có khả năng bất kỳ ai khác sẽ tranh chấp chúng với ông].
Taberd cũng vẽ ra một bản đồ An Nam (tên Việt Nam lúc đó) rất chuyên nghiệp – Annam Đại Quốc Họa Đồ – Tabula Geographica Imperii Ananmitici bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Bản đồ này được in trong quyển tự điển của Ông tên Latin Vietnamese Dictionary.J. L Taberd, Dictionarium Anamitico Latinum, xuất bản năm 1838, bởi J. Marshnam, in Serampore (Bengale) và được in lại photocopy bởi NXB Văn Hóa và Trung Tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004, Vietnam.
Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825), là một lính hải quân và nhà thám hiểm Pháp, viết trong quyển Memoire sur la Cochinchine (Hồi ức về xứ Nam Kì) về sự kiện xảy ra vào một lúc nào đó trước khi ông chết vào năm 1825; quyển sách được xuất bản năm 1925 sau khi ông mất trong Bulletin Des Amis du Vieux Hue, số. 2, 4, và 6.
[iv] Hành động của vua Minh Mạng được ghi chép trong lịch sử chính thức Ðại Nam Thực Lục Chính Biên (大南寔) (q. 104, 122, 154, 165). Hành động của vua Thiệu Trị được ghi chép trong các Châu Bản thờiThiệu Trị (q. 42 tr. 83, và q. 51 tr. 125)—dù không được ghi chép trong lịch sử chính thức.
[v] Sức ép lực của quan chức địa phương đã được phản ánh trong các thư do Khâm Sứ An Nam, Huế, gửi Thống đốc Đông Dương vào ngày 22 tháng 1 năm 1929, lập luận sự kiện là quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, kê ra các hành động của vua Gia Long đã được Giám mục Taberd khẳng định, và Bộ trưởng Bộ An Nam Thân Trọng Huề trước khi qua đời. Bức thư nói rằng Pháp nên phản ứng tuyên bố chủ quyền vào năm 1909 của Tổng đốc tỉnh Quảng Đông. (Xem Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, Kluwer Law International, 2000, Annex 8, p.180-182.) Xem thêm thảo luận về lịch sử quần đảo Hoàng Sa như một phần của sức ép liên tục của Lacombe (Alexix Elijah), L’histore moderne des l’iles ParacelsL’Eveil de l’Indochine, Hanoi, Vietnam, No. 788, 22 Mai 1932.
[vi] Monique Chemillier-Gendreau, ibid., p. 37.
[vii] French Ministry of Foreign Affairs, French Journal Official, July 26, 1933 (page 7837).
[viii] Sự có mặt của người Nhật và Hoa ở Trường Sa được tường thuật trong Economie de L’Indochine 19 Mai 1929, (http://hoangsa.org/forum/downloads/63868-N5561322_PDF_1_-1EM.pdf) published in Hanoi. Bài báo có một ảnh chụp hồi tháng 7/1926 cho thấy một bến cảng dài 300m do người Nhật xây để vận chuyển phosphate xuống tàu. Xem thêm Marwyn Samuels, Contest for the South China Sea, New York/London, 1982, p. 55-60.
[ix] Monique Chemillier-Gendreau, ibid., Annex 10, pages -184-196: Note of 29 September 1932 from the Legation of the Chinese Republic in France to the Ministry of Foreign Affairs, Paris.
[x] James William Morley, The Soviet-Japanese Peace Declaration, Political Science Quarterly, Summer 1957
[xii] Treaty of Peace between the Republic of China and Japan. http://www.taiwandocuments.org/taipei01.htm
[xiii] The Issue of South China Sea, Ministry of Foreign Affairs People’s Republic of China June 2000. Posted on the website of Federation of American Scientist: http://www.fas.org/news/china/2000/china-000600.htm.
[xiv] B.Raman, Re-visiting the South China Sea, 3 April 2001. http://www.southasiaanalysis.org/%5Cpapers3%5Cpaper222.htm
[xv] China’s Ministry of Foreign Affairs. http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19231.htm
[xvi] Xuất bản bởi Sở hồ sơ lịch sử Trung Quốc số 1 thành phố Quảng Châu, Chính quyền quậnViệt Tú thành phố Quảng Châu People’s Government Archives (广州市档案馆 中国第一历史档案馆 广州市越秀区人民政府), 2003.
[xvii] Lịch sử của bản đồ này được mô tả trong Cordell D.K. Yee, Chapter 7, Traditional Chinese Cartoghraphy and the Myth of Westernization trong The History of Cartography, Volume 2, Book 2, the University of Chicago Press, 1994.
[xviii] Ref. K.top. 116.15, 15a. 15b.2 (K.Top là cách viết tắt của King’s Topographical collection)
[xix] Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, Kluwer Law International, 2000, page 130.
[xx] “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra tuyên cáo như sau: “Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc. Trong vấn đề biên giới lãnh thổ, các nước láng giềng thường có sự tranh chấp do lịch sử để lại, có khi rất phức tạp, cần được nghiên cứu. Trước sự phức tạp của vấn đề, các nước có liên quan cần xem xét vấn đề này theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt, và giải quyết bằng thương lượng.” Tuyên bố của CPCMLT Miền Nam VN.
[xxi] Peter Kien-Hong Yu, “The Chinese (Broken) U-shaped line in the South China Sea: Points, Lines and Zones”, Current Southeast Asia, vol. 25, no. 3, 2003. p. 407. Về việc vẽ ra tuỳ tiện đường chữ U 11 vạch do Bạch Mi Sơ, một viên chức của THDQ tưởng ra vào năm 1947, Yu viết: “It is quite probable, however, that he was prompted by a primordial possessive instinct (that as the adage goes, views possession as nine-tenths of the law.) Indeed, Bai notes the French occupation (from July 1933) of six islands in the Nansha (or Spratly) island group the South China Sea (SCS) and states that or arguably felt that Chinese sovereignty must somehow be protected.” [Tuy nhiên, có nhiều khả năng là ông đã được thúc đẩy bởi bản năng sở hữu sơ khai (mà như câu ngạn ngữ nêu, xem sở hữu như chín phần mười của pháp luật.) Thật vậy, Bạch Mi Sơ lưu ý Pháp chiếm đóng (từ tháng 7 năm 1933) sáu hòn đảo trong nhóm đảo Nam Sa (hay Trường Sa) ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và nói rằng hay cảm thấy rằng chủ quyền của Trung Quốc phải được bảo vệ bằng cách nào đó ]. Sau đó năm 1947 bản đồ này được THDQ phát hành (xem Li Jinming and Li Dexia, The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note, Ocean Development & International Law, 34:287–295, 2003).

No comments:

Post a Comment